MỘT TỔ CHỨC CÓ THỂ TIẾT KIỆM ĐƯỢC BAO NHIÊU NĂNG LƯỢNG
nếu việc sưởi ấm, điều hòa không khí và tiêu thụ điện được điều tiết
tương ứng với số người có mặt trong tòa nhà? Chủ đầu tư tòa nhà có thể
tạo ra thêm bao nhiêu giá trị nếu họ có một bức tranh phản ánh chính
xác hơn về cách thức các dịch vụ của họ được sử dụng và có thể thu tiền
của cư dân một cách tương ứng? Và mức độ tiện dụng có thể cao hơn đến
đâu khi làm việc trong một tòa nhà trong đó cơ sở hạ tầng thông minh
nhận biết được từng cá nhân khi anh hoặc chị ta bước vào một căn phòng,
các dịch vụ tòa nhà được cá nhân hóa theo những sở thích cá nhân và
cung cấp truy nhập trực tiếp đến các hệ thống IT và truyền thông cần
thiết.
ĐÂY KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TẦM NHÌN chỉ dành cho
một tương lai xa - phần lớn cơ sở hạ tầng cần thiết để đạt được điều đó
đã sẵn có ngay từ hôm nay, và các sản phẩm quan trọng cần thiết khác sẽ
được đưa ra trong tương lai gần. Bằng việc nhúng công nghệ Internet vào
trong kết cấu của một tòa nhà, triển khai những con chip rẻ tiền và
thay đổi cách thức chúng ta quản lý cả các hệ thống điện tử và các hệ
thống dữ liệu, có thể thay đổi cách thức tương tác trong mỗi công trình
xây dựng.
Tất nhiên cũng có nhiều thách thức liên quan đến việc
thực hiện chuyển đổi này – từ những khó khăn về mặt kỹ thuật trong việc
tạo ra các giao diện người dùng chung cho đến những vấn đề về mặt tổ
chức liên quan đến việc quản lý thay đổi trong môi trường làm việc. Tuy
nhiên, việc giải quyết những vấn đề đó sẽ mang lại những lợi ích to lớn
cho chủ đầu tư và cư dân của các tòa nhà, cả trên phương diện chất
lượng trải nghiệm của người dùng và tiết kiệm năng lượng tổng thể. Nếu
có thể tùy biến toàn bộ môi trường làm việc để đáp ứng những nhu cầu
theo thời gian thực của con người làm việc bên trong, bạn có thể lặp
lại những tiết kiệm đó trên toàn bộ cơ sở hạ tầng tòa nhà điện tử.
Tạo ra một cơ sở hạ tầng tích hợp
Mọi
tòa nhà đều chứa một cơ sở hạ tầng đa lớp. Ở cấp độ thứ nhất là bộ
khung lõi của tòa nhà, thường có vòng đời khoảng 50 năm trước khi nó
phải trải qua sự thay đổi đáng kể về kết cấu. Bên trong nó là cơ sở hạ
tầng kỹ thuật – bao gồm cả lớp vật lý của các hệ thống số và các hệ
thống cơ điện – thường được làm mới sau mỗi chu kỳ 10 năm. Ở cấp độ thứ
hai là những “tiện nghi” – những sản phẩm và thiết bị mà con người sử
dụng để tổ chức căn phòng và không gian của họ, thường có vòng đời
khoảng 2 năm. Cấp độ thứ ba là phần mềm và dịch vụ mà con người sử dụng.
Chúng tôi tin tưởng việc chuyển sang các tòa nhà thông minh sẽ được quyết định bởi lĩnh vực nhà riêng
Điểm
quan trọng đối với kiểu kiến trúc này là mỗi một cấp độ cần phải được
nhúng vào trong lớp nằm dưới nó – do đó, ví dụ như phần mềm cần phải
được cài đặt trên các thiết bị có vòng đời 2 năm, và các thiết bị đó
lại được kết nối với cơ sở hạ tầng tòa nhà 10 năm. Một điều cực kỳ quan
trọng từ phương diện kiến trúc đối với các cấp độ này của cơ sở hạ tầng
cần được giải quyết ngay từ rất sớm trong các quy trình thiết kế và xây
dựng, nhờ đó mọi thứ sẽ được gắn lại với nhau. Với kiểu cơ sở hạ tầng
tích hợp này, chủ đầu tư tòa nhà sẽ có thể chuyển đổi từ một nền tảng
thiết bị được quyết định bởi chức năng, hướng thiết bị sang một nền
tảng hướng dịch vụ - và điều đó làm tăng giá trị của tòa nhà một cách
đáng kể nhờ cắt giảm vốn và nhân công, đồng bộ hóa hiệu suất hoạt động
và tạo ra các dịch vụ tòa nhà được cá nhân hóa.

Hình 1: Công nghệ số là một lớp hệ thống bổ sung cho tòa nhà và cần được xem xét sớm trong các quá trình quy hoạch và thiết kế
Khi
bạn so sánh thiết bị IT với các thiết bị tòa nhà truyền thống như là
đèn điện, rèm cửa, thang máy, các hệ thống an ninh và kiểm soát vào ra,
sẽ có những khác biệt cơ bản về hiệu năng trong tốc độ triển khai. Tuy
nhiên, các thiết bị IT lại hoạt động tốt hơn nhiều – có thể với hệ số
lên tới 10.000 so với những thiết bị cơ bản như là đèn điện. Tuy vậy,
trong một môi trường tòa nhà tiêu biểu, số lượng thiết bị cơ bản thực
hiện việc điều khiển và quản lý trên mỗi đầu người cao hơn tới 10 lần
so với số lượng thiết bị IT trên đầu người. Điều đó cần được cân nhắc
bởi chủ đầu tư tòa nhà khi họ đánh giá xem họ nên tính tiền các dịch vụ
tòa nhà thông minh như thế nào. Tối thiểu, chủ đầu tư có thể phải tăng
gấp đôi đầu tư của họ vào mỗi thiết bị - tòa nhà truyền thống hay IT –
khi họ thiết lập một tòa nhà có máy tính tích hợp.

Hình
2: Tầm nhìn về các tòa nhà thông minh trở thành hiện thực thông qua
tích hợp các công nghệ thông tin và điện tử trên nền tảng một mạng dữ
liệu hợp nhất
Các giải pháp công nghệ bắt đầu từ nhà riêng
Chúng
tôi tin tưởng rằng việc chuyển đổi sang các tòa nhà thông minh sẽ được
quyết định bởi khu vực nhà riêng, không phải bởi văn phòng hay các tòa
nhà thương mại khác, các bệnh viện hay các tòa nhà công cộng. Lý do rất
đơn giản: số lượng lớn là yếu tố mấu chốt để hạ thấp giá thành của các
thiết bị điện tử và các ngôi nhà ở cung cấp môi trường hoàn hảo cho
cuộc cách mạng đó. Đồng thời, các ngôi nhà riêng chính là phân khúc thị
trường lớn nhất, với không gian lớn hơn bất cứ loại công trình nào
khác, và nhu cầu của chủ nhà riêng thường là có đặc điểm chung.

Hình
3: Thách thức của việc tích hợp công nghệ số vào các tòa nhà trong
tương lai sẽ là nhằm tạo ra được những môi trường thân thiện người
dùng. Như được trình bày ở đây, khách hàng gặp khó khăn với cơ sở hạ
tầng đi cáp phức tạp và những giao diện người dùng thiếu thân thiện
trong các tòa nhà truyền thống.
Tuy vậy, chúng ta cũng
phải đối mặt với những thách thức lớn trong việc chuyển đổi nhà riêng
từ môi trường truyền thống thành môi trường thông minh. Chỉ tính riêng
tại Đức đã có tới 170 triệu căn phòng, 90% trong số đó là phòng ở với
hơn một tỷ thiết bị điện tử được lắp đặt. Chúng tôi ước đoán rằng có
hơn 10 tỷ thiết bị điện tử có tuổi thọ dài đã được lắp đặt trên toàn
thế giới. Chúng sử dụng những giao diện khác nhau, hệ thống dây cáp mà
chúng sử dụng dựa trên nhiều tiêu chuẩn và lượng thiết bị điện tử cần
thiết để hỗ trợ những thứ đơn giản như là công tắc đèn cũng là quá lớn.
Do đó để tạo ra một tòa nhà thông minh, chúng ta cần phải mang lại sự
đồng nhất về giao diện người dùng và chuyển các tiêu chuẩn về dữ liệu
và truyền thông sang mạng Internet.