Chúng tôi ước đoán rằng có tới hơn 10 tỷ thiết bị điện tử thiết bị có tuổi thọ dài được lắp đặt trên toàn thế giới.
Nếu
chúng ta có thể danh định hóa việc điều khiển và quản lý tất cả các
thiết bị điện tử khác nhau này thành các tiêu chuẩn mạng Internet, việc
bổ sung thêm các thiết bị mới trở nên đơn giản như là cắm và hoạt động (plug-and-play). Thêm vào đó, bằng việc sử dụng mạng Internet để
tập trung hóa việc điều khiển của những thiết bị điện tử này, chúng ta
có thể cắt giảm chi phí bảo dưỡng thường xuyên và cải thiện việc quản
lý năng lượng. Ví dụ như cần một mức chi phí lên tới 2.5 tỷ euro mỗi
năm tại Đức chỉ để duy trì các thiết bị điện tử ở chế độ chờ - chẳng
hạn như, một chiếc TV đơn giản tiêu thụ tới 20 oát điện ở chế độ chờ.
Nếu chúng ta có thể quản lý từng chiếc TV thông qua một cơ sở hạ tầng
truyền thông thông qua mạng Internet thì chúng ta có thể cắt giảm mức
tiêu thụ điện năng xuống còn 0.2 oát. Với một tỷ thiết bị điện tử được
lắp đặt riêng tại Đức, mức tiết kiệm này tương đương với 3 tỷ euro mỗi
năm, và tương ứng là sự cắt giảm đáng kể về bức xạ khí nhà kính.
Để
biến điều đó thành hiện thực, chúng tôi đang phát triển một giải pháp
đơn chíp để làm cho tất cả các thiết bị đều có thể được quản lý thông
qua hệ thống đi dây hiện tại trong các tòa nhà. Con chíp này sẽ được
đưa ra trong quý 4 năm 2009 và sẽ làm việc trên các thiết bị hoạt động
với điện áp 220V hoặc 110 V với cường độ dòng điện là 16A, và có mức
tiêu thụ điện năng trong chế độ chờ là 0.2 hoặc 0.3 oát trên mỗi thiết
bị. Đồng thời cũng có một số sê ri chung về đi dây và nhận dạng số về
mức tiêu thụ năng lượng. Con chíp sẽ cho phép người dùng điều khiển các
thiết bị thông qua kết nối Internet nhờ đó họ có thể bật tắt thiết bị,
thay đổi kênh trên TV hoặc radio, mở hoặc đóng rèm cửa sổ, điều khiển
từng chiếc đèn, vv...

Hình
4: Một con chip điện áp cao, giá thành hạ có thể được tích hợp vào
trong bất kỳ thiết bị điện tử nào và được nối mạng trên toàn bộ hệ
thống dây điện hiện tại.
Quy trình xây dựng hiện tại là một
trong những thách thức lớn đối với việc triển khai thành công quản lý
và điều khiển dựa trên mạng Internet. Kỹ thuật điện và kỹ thuật công
nghệ thông tin đi theo hai xu hướng khác nhau về thiết kế, mua sắm và
xây dựng. Bằng việc sử dụng hệ thống dây điện hiện có làm lớp vật lý
cho cơ sở hạ tầng điều khiển và quản lý tòa nhà, các kỹ sư điện không
hề bị ảnh hưởng – họ không phải học về các công cụ mới, không có yêu
cầu về ngôn ngữ lập trình, không phải đào tạo bổ sung và không cần phải
đi cáp mới. Điều này hết sức có giá trị đối với chủ đầu tư những ngôi
nhà hiện tại, bởi vì họ có thể tạo ra thêm những tính năng mới mà không
hề phải can thiệp vào hệ thống dây dẫn hiện tại. Trong những công trình
mới, cả chi phí đầu tư và nhân công đều được giảm xuống.
Trong
tương lai, chúng tôi tin tưởng rằng chủ đầu tư các tòa nhà sẽ áp dụng
hai kiểu nút mạng trong việc xây dựng hệ thống điều khiển tòa nhà của
mình. Một kiểu là nút mạng băng thông thấp chịu trách nhiệm điều khiển
đèn, mô tơ và các thiết bị điện tử truyền thống khác, sử dụng hệ thống
dây điện. Một kiểu nút mạng khác lấy dữ liệu làm trung tâm là nút mạng
băng thông rộng được trực tiếp kết nối với mạng Ethernet, có thể là sử
dụng tiêu chuẩn Cấp nguồn qua mạng Ethernet để loại bỏ nhu cầu về kết
nối cấp nguồn và đang nhận được sự chấp nhận rộng rãi của thị trường.
Nút mạng dung lượng lớn này dành cho các ứng dụng như là dữ liệu đa
phương tiện, âm thanh, hình ảnh, điện thoại và camera an ninh.

Hình
5: Bất cứ môi trường vật lý nào ở bất cứ địa điểm nào trên thế giới có
thể được kết nối thông qua mạng Internet bởi một nút mạng chung.
Cuộc
cách mạng sẽ chuyển đổi cách chúng ta nghĩ về các tòa nhà. Ngày nay,
dường như chúng ta đang nghĩ dưới dạng các thiết bị như điện thoại,
TV, video camera, công tắc đèn hoặc điều khiển nhiệt độ - những thứ
điều khiển môi trường tòa nhà của chúng ta. Tuy vậy, trong một tòa nhà
thông minh, chúng ta tập trung vào mạng lưới, và các thiết bị chỉ được
đơn thuần phân loại hoặc là thành “Các bộ cảm biến-Sensors” hoặc là
thành “Các bộ kích hoạt-Triggers”. Cảm biến nhận hình ảnh, âm thanh
hoặc các hoạt động của tòa nhà như là camera, micrô hoặc các bộ cảm
biến khác. Các bộ kích hoạt tương tác với những đầu vào này – chúng bao
gồm cả loa để phát âm thanh, màn hiển thị đa chức năng để trình chiếu
các hình ảnh và bóng đèn cũng như lò sưởi để cung cấp một môi trường
lành mạnh và thuận tiện. Việc thiết lập môi trường số của bạn ở dưới
dạng các bộ cảm biến và các bộ kích hoạt cho phép bạn tổ chức các thiết
bị của mình một cách tự do mà không vướng phải những hạn chế của phần
cứng. Việc phân chia thành các bộ phận cấu thành, ví dụ như một chiếc
điện thoại bao gồm micrô và một chiếc loa số (cũng có thể được sử dụng
như là một máy chơi nhạc MP3 hoặc là một chiếc đài), trong khi bản thân
máy điện thoại lại là một phần mềm.
Các cá nhân sẽ có thể bật hoặc tắt đèn, mở và đóng cửa sổ và truy nhập video thông qua một thiết bị duy nhất.
Việc
quản lý chuyển đổi sang môi trường số này cần có sự thận trọng. Ngay cả
khi bạn chia nhỏ chiếc máy điện thoại thành các thành phần cảm biến và
kích hoạt đi nữa thì từ quan điểm quản lý bạn vẫn có thể phải muốn rằng
nó có hình dạng giống như một chiếc máy điện thoại. Trong khi những
người định hình khuynh hướng muốn sử dụng những công nghệ mới nhất thì
phần lớn mọi người lại hết sức bận rộn và ngại học về những cách thức
mới để sử dụng những công cụ cơ bản – họ muốn các thiết bị hoạt động
theo cách trước đây mà chúng từng hoạt động. Họ sẽ từng bước tự học
những tính năng bổ sung, hoặc họ sẽ học hỏi từ bạn bè hoặc đồng nghiệp,
những người thích thú hơn với việc khám phá những khả năng mới của một
cuộc sống số.
Dần dần, một số chức năng và dịch vụ này sẽ bắt đầu
chuyển sang các thiết bị điều khiển cá nhân, cho phép chúng ta tương
tác với các tòa nhà theo những cách thức mới. Ví dụ như, các cá nhân sẽ
có thể bật đèn, mở và đóng cửa sổ và truy nhập video thông qua một
thiết bị duy nhất. Cuối cùng thì bản thân những tương tác này cũng sẽ
được tự động hóa và một căn phòng thông minh sẽ có thể nhận ra từng cá
nhân đi vào phòng và điều chỉnh môi trường một cách phù hợp theo sở
thích của họ. Ví dụ như ánh sáng, có thể được giảm bớt để phù hợp với
yêu cầu cá nhân khi tôi đi vào một căn phòng, và khi mà âm nhạc yêu
thích của tôi được bật lên, mạng lưới sẽ cài đặt cấu hình phần mềm của
tôi.

Hình
6: Một giao diện người dùng di động đơn giản – tương tự như một chiếc
iPhone – sẽ trở thành thiết bị điều khiển từ xa được cá nhân hóa dành
cho làm việc, sống, vui chơi, học tập và các dịch vụ tòa nhà.
Đến
lúc này, thiết bị trở nên độc lập đối với tôi – bất kể là chiếc TV hoặc
máy điện thoại nào mà tôi đang ở gần thì môi trường cá nhân của tôi sẽ
được tạo ra một cách tự động. Tôi không còn phải bận tâm về những chức
năng liên quan đến một căn phòng – mà tôi nghĩ về các chức năng liên
quan đến bản thân mình.
Những lợi ích trong hoạt động đối với chủ
đầu tư tòa nhà từ khuynh hướng này sẽ là rất lớn. Trước hết chúng cắt
giảm chi phí năng lượng bởi vì sưởi ấm, thông khí, điều hòa không khí,
chiếu sáng và các dịch vụ khác có thể được cung cấp trên cơ sở sử dụng
trong đó các bộ cảm biến sẽ xác định là ai đang ở trong tòa nhà vào
thời điểm nào. Thứ hai, chúng cung cấp một lượng lớn thông tin quản lý
tòa nhà theo thời gian thực để hỗ trợ việc ra quyết định tốt hơn. Thứ
ba, chúng cung cấp cho chủ đầu tư và các nhà quản lý tòa nhà khả năng
truy nhập đến dữ liệu về mức tiêu thụ năng lượng và sử dụng thiết bị
của từng cá nhân, làm cho việc tính phí dịch vụ trên cơ sở nhu cầu trở
nên dễ dàng hơn và đồng thời để hiểu về việc sử dụng cơ sở hạ tầng cho
các mục đích quy hoạch trong tương lai.
Biến tầm nhìn thành hiện thực
Tầm
nhìn về một tòa nhà thông minh có thể trở thành hiện thực nhanh đến mức
độ nào? Yếu tố mấu chốt để áp dụng khái niệm này là thực tế rằng một
tòa nhà thông minh được xây dựng trên cơ sở một con chíp có đặc điểm
chung được sản xuất với số lượng lớn và do đó, tương đối rẻ. Một tòa
nhà thông minh không đòi hỏi những kỹ năng mới đối với những kỹ sư điện
và một giao diện chung tạo ra một lộ trình chuyển đổi thuận lợi cho
người dùng, do đó dường như họ sẽ ít có phản ứng trước việc sử dụng.
Những người sớm áp dụng – những người đặt ra khuynh hướng chỉ chiếm
khoảng 10% thị phần – đang tìm kiếm những chức năng như thế, và chúng
tôi tin tưởng là họ sẽ bắt đầu triển khai nó trong vòng hai năm tới.
Trong vòng 5 năm nữa, chúng tôi cho rằng sẽ có một sự nhận thức và chấp
nhận chung về sự khác biệt giữa một ngôi nhà truyền thống và một ngôi
nhà thông minh, và sự chuyển đổi tổng thể sang môi trường thông minh sẽ
có thể mất từ 5 đến 10 năm.
Điều đó là một sự chuyển đổi rất lớn.
Các tòa nhà hiện nay được quản lý từ một quan điểm chức năng; những
ngôi nhà, văn phòng và các tòa nhà thương mại hoặc công cộng của ngày
mai sẽ được quản lý từ một triết lý về dịch vụ tạo ra sự tiết kiệm đáng
kể về năng lượng, có hiệu suất hoạt động cao và môi trường hấp dẫn hơn
cho những cư dân trong tòa nhà.